Home / Văn mẫu / Văn mẫu lớp 10 / Cảm nhận về bài thơ Nhàn

Cảm nhận về bài thơ Nhàn

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Bài làm

Cảm nhận về bài thơ Nhàn – Trước cục diện xã hội phong kiến suy đồi, tàn lụi, có biết bao nhà trí sĩ yêu nước đã chọn con đường đi riêng để bày tỏ sự chống đối chế độ. Trong đó, tôi ấn tượng với cách “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó cũng là tên một bài thơ mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sáng tác. Bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường, xấu xa của cuộc tranh đua danh lợi ở đời.

 “Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn, người đến chốn lao xao.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Rượu đến gốc cây ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong một thời kì đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam, đó là triều Lê – Mạc xưng hùng và Trịnh – Nguyễn phân tranh. Nguyễn Bình Khiêm nổi tiếng là người ngạo khí, cương trực, cứng cỏi. Tuy ông chỉ làm quan trong tám năm nhưng đã dâng sớ xin chém mười tám kẻ lộng thần, tiếc rằng đều không được chấp nhận. Quá bất bình với chế độ, ông xin cáo quan về quê nhà. Cả đời Nguyễn Bình Khiêm đấu tranh cho cái xấu, cái suy đồi, biến chất. Về quê nhà, ông để đấu tranh bằng con đường mà nhiều trí thức bấy giờ đều chọn – gửi tấm lòng vào thơ ca.

>> Xem thêm:  Phân tích điểm chung và nét riêng của những câu hát than thân sau đây: Thân em như tấm lụa đào, ... Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

Bài thơ “Nhàn” cho thấy cách xử thế đặc biệt của bậc nho gia trước thực tại đó là giữ tâm hồn trong sạch và chơi “ngông” với đời. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, đậm cảm hứng thanh nhàn, tự tại với ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, giàu ý vị.

Hai câu thơ đầu là phần đề, vừa thể hiện chủ đề của bài thơ cũng vừa là khái quát cuộc sống nhàn tản, thú vị của nhà thơ:

“Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Câu thơ gợi về những vùng quê xưa với hình ảnh quen thuộc là trồng trọt, chăn nuôi, sinh sống bên ruộng vườn. Tác giả cởi bỏ áo quan, tiền tài và địa vị để trở về với mảnh đất, bờ ao. Cuộc sống tự cung tự cấp đơn sơ hiện lên qua các từ “mai”, “quôc” “cần câu” và “một”. Ta như thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm trong vai một lão nông già ngày ngày chăm chỉ làm lụng. Mặt khác, các từ “một…một…một…” tạo nhịp thơ đều đặn, tuần tự và tuần hoàn. Con người mỗi ngày làm những việc quen thuộc là cuốc đất, câu cá. Con người an nhàn không lo lắng đến ngày mai. Từ “một” lặp lại ba lần trong một câu thơ như là đang diễn tả nhân vật bận rộn lắm, tất bật lắm. Chuyện trồng rau, câu cá thôi nhưng cũng khiến người ta bận rộn. Cái chất “ngông” của Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn xuất hiện trong từng ý thơ nhỏ nhất.

>> Xem thêm:  Bình luận về tinh thần dũng cảm

Thế mà nhà thơ vẫn cứ thấy “vui thú nào”. Tác giả như đang so sánh. Chốn quan trường chơi chim quý, cây quý, hoa quý còn nơi đây câu cá, trồng rau mới cũng là thú vui đáng quý ở đời.

cam nhan ve bai tho nhan - Cảm nhận về bài thơ Nhàn

Cảm nhận về bài thơ Nhàn

Hai câu thơ tiếp theo lại mang màu sắc triết lí, suy tư:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn người đến chốn lao xao”

Hai câu thơ nổi bật với phép đối. Tác giả tạo nên sự đối xứng đối lập giữa một bên là nhà thơ xưng “ta” với một bên là “người”. Tác giả nhận mình là kẻ “dại” vì đã chọn nơi xa lánh với danh lợi, vật chất còn những kẻ đeo đuổi “chốn lao xao” kia là “khôn”. Vậy họ có thực sự “khôn”?

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Kẻ “dại” mà lại có cuộc sống thanh cao đến thế ư? Suốt bốn mùa xuân-hạ-thu-đông, kẻ “dại” đã làm gì “nơi vắng vẻ”?. Tác giả thưởng thức măng tươi mùa thu, giá đỗ mùa đông, tắm ao sen mùa xuân và uống nước mát trong mùa hạ một cách thật “sang trọng”, thanh cao. Thế ai mới là kẻ “khôn” ở đây? Có lẽ, những câu thơ mang tính châm biếm hơn là tự vấn.  

“Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Hai câu thơ cuối đậm chất cổ thi với những hình ảnh “cội cây”, “rượu”, “phú quý”, “chiêm bao”. Một không gian như tiên cảnh khiến ta tự hỏi là tỉnh hay mơ?

>> Xem thêm:  Viết bài ngắn (khoảng 20 câu) nêu cảm nhận về vẻ đẹp của người phụ nữ qua hai tác phẩm Truyện Kiều và Chuyện người con gái Nam xương

Sống cuộc sống thoát tục, như tiên, như phật, với tác giả: “phú quý tựa chiêm bao”. Phú quý, giàu sang cuối cùng cũng chỉ như một giấc mộng hão huyền. Hai chữ “nhìn xem” gợi nên hình ảnh một con người đứng ngoài vòng trần thế để quan sát, để cười khẩy, để thông tuệ quy luật ở đời. Tác giả như cho mình cái chỗ ỏ trên đời để mà coi thường những kẻ đang lao vào cuộc tranh đấu danh lợi. Cả đời Nguyễn Bỉnh Khiêm căm ghét cái “thói đời”:

“Còn bạc, còn tiền còn đệ tử

Hết cơm, hết rượu hết ông tôi”

(“Thói đời” – Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Bài thơ “Nhàn” đã khái quát trí tuệ và triết lí sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Suốt cuộc đời ông không những đấu tranh vạch trần thế lực đen tối, nhiễu nhương mà còn luôn ý thức giữ gìn giá trị đạo lí tốt đẹp bằng những bài thơ giàu chất triết lí.

Hoài Lê

Check Also

c879b28906e31e1d66d06429d0158f1c 310x165 - Dẫn chứng về lòng hiếu thảo, nghị luận lòng hiếu thảo

Dẫn chứng về lòng hiếu thảo, nghị luận lòng hiếu thảo

Dẫn chứng về lòng hiếu thảo, nghị luận lòng hiếu thảo Bài làm Công cha, …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *